xây
dựng một ứng dụng quản lý tin tức đơn giản nhưng được phát triển trên
một mô hình chuẩn 3 lớp logíc. Loạt bài viết sẽ hướng dẫn bạn các bước
cơ bản trong quá trình phát triển một ứng dụng: từ bước phân tích yêu
cầu, phân tích chức năng, thiết kế hệ thống và hiện thực. Tổng quan,
loạt bài viết sẽ gồm các phần sau đây:
Giới thiệu ứng dụng tin tức, phân tích yêu cầu và chức năng
Phân tích và thiết kế ứng dụng theo mô hình 3 lớp logíc
Phát triển ứng dụng, phần quản lý
Phát triển ứng dụng, phần trình bày tin tức
Tổng kết và hướng phát triển
Giới thiệu ứng dụng tin tức, phân tích yêu cầu và chức năngTrong
bài đầu tiên này, tôi sẽ trình bày những yêu cầu của ứng dụng tin tức
mà chúng ta sẽ phát triển. Không cần định nghĩ gì nhiều, các bạn có thể
ghé thăm các website như Tuổi Trẻ Online, VNExpress, ViệtNamNet để có
thể hình dung một ứng dụng quản lý tin tức sẽ như thế nào. Khi các bạn
xem qua các trang này, sẽ thấy có nhiều chuyên mục, mỗi chuyên mục sẽ
có nhiều tin tức. Hệ thống quản lý tin tức sẽ giúp các biên tập viên,
các quản trị viên của website có thể gửi những nội dung mới lên website
một cách dễ dàng nhanh chóng, không cần phải có kiến thức về HTML hay
Web design nhiều cũng có thể tạo được các trang web như vậy.
Như
đã nói ngắn gọn ở trên, một ứng dụng quản lý tin tức sẽ cho phép người
sử dụng(ở đây là các biên tập viên, quản trị viên của website) thực
hiện các công việc sau:
- Dễ dàng tạo mới và chỉnh sửa các chuyên mục cần thiết
- Dễ dàng gửi một tin tức mới vào một chuyên mục nào đó: nhập nội dung, upload hình ảnh đi kèm…
- Lưu trữ/Phục hồi tin tức cũ
- Quản lý các thông tin phản hồi
Ngoài ra, hệ thống quản lý tin tức cũng phải cung cấp các chức năng sau đây cho người xem tin:
- Cho phép người dùng xem qua các tin mới nhất
- Cho phép người dùng xem các tin trong một chuyên mục nào đó
-
Cho phép người dùng tìm kiếm một tin tức nào đó thỏa mãn một điều kiện
nào đó, ví dụ như tìm các tin có từ “Cúm gà” và có ngày đăng từ tháng 2
năm 2005 trở lại đây…
- Gửi một tin nào đó cho bạn bè, hoặc in ra máy in để xem
- Gửi ý kiến/phản hồi của mình về nội dung một tin nào đó
-
Ngoài ra còn một số chức năng nâng cao khác như cho phép người dùng
định nghĩa những chuyên mục nào là yêu thích nhất để xem trên trang
chủ… nhận email thông báo khi có tin mới đăng…
Ứng dụng quản lý của chúng ta đơn giản sẽ chỉ tập trung vào giải quyết một số chức năng cơ bản là:
- Quản lý các chuyên mục: cho phép tạo, sửa, xóa các chuyên mục
- Quản lý các tin tức trong chuyên mục: cho phép gửi tin mới, sửa tin cũ, hoặc xóa hẳn một hay nhiều tin nào đó
- Liệt kê các tin mới nhất cho người xem
- Liệt kệ danh sách các chuyên mục hiện có
- Liệt kê các tin trong một chuyên mục nào đó
- Trình bày thông tin chi tiết của một bản tin
Với
các chức năng này, các bạn hình dung ứng dụng của chúng ta sẽ gồm 2
phần chức năng chính. Một phần dành cho các biên tập viên và quản trị
viên quản lý các chuyên mục/tin tức và một phần dành cho người xem tin.
Các bạn cũng đã hình dung được một ứng dụng tin tức thường có những
chức năng cơ bản nào. Trong bài viết sau tôi sẽ trình bày cách phân
tích và thiết kế ứng dụng của chúng ta dựa trên mô hình 3 lớp.
Mô hình 3 lớp (3 layers)Trong
bài viết này không có tham vọng trình bày lại chi tiết mô hình thiết kế
ứng dụng đa lớp/tầng là như thế nào. Chỉ tóm tắt ngắn gọn lại những
điểm chính của mô hình 3 lớp, mà cụ thể là 3 lớp logic.
Lưu ý:
Các bạn không nên nhầm lẫn khái niệm lớp(layer) trong phần này với khái
niệm lớp(class) của các ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng.Trong
phát triển ứng dụng, để dễ quản lý các thành phần của hệ thống, cũng
như không bị ảnh hưởng bởi các thay đổi, người ta hay nhóm các thành
phần có cùng chức năng lại với nhau và phân chia trách nhiệm cho từng
nhóm để công việc không bị chồng chéo và ảnh hưởng lẫn nhau. Ví dụ
trong một công ty bạn có từng phòng ban, mỗi phòng ban sẽ chịu trách
nhiệm một công việc cụ thể nào đó, phòng này không được can thiệp vào
công việc nội bộ của phòng kia như Phòng tài chính thì chỉ phát lương,
còn chuyện lấy tiền đâu phát cho các anh phòng Marketing thì các anh
không cần biết. Trong phát triển phần mềm, người ta cũng áp dụng cách
phân chia chức năng này. Bạn sẽ nghe nói đến thuật ngữ kiến trúc đa
tầng/nhiều lớp, mỗi lớp sẽ thực hiện một chức năng nào đó, trong đó mô
hình 3 lớp là phổ biến nhất. 3 lớp này là gì? Là Presentation, Business
Logic, và Data Access. Các lớp này sẽ giao tiếp với nhau thông qua các
dịch vụ(services) mà mỗi lớp cung cấp để tạo nên ứng dụng, lớp này cũng
không cần biết bên trong lớp kia làm gì mà chỉ cần biết lớp kia cung
cấp dịch vụ gì cho mình và sử dụng nó mà thôi.
Mô hình 3 lớp mà Microsoft đề nghị dùng cho các hệ thống phát triển trên nền .NET như sau:

Bạn có thể tham khảo chi tiết các đề nghị thiết kế các thành phần trong lớp này như thế nào ở đây:
http://www.microsoft.com/Downloads/details.aspx?familyid=A08E4A09-7AE3-4942-B466-CC778A3BAB34&displaylang=enPresentation LayerLớp
này làm nhiệm vụ giao tiếp với người dùng cuối để thu thập dữ liệu và
hiển thị kết quả/dữ liệu thông qua các thành phần trong giao diện người
sử dụng. Lớp này sẽ sử dụng các dịch vụ do lớp Business Logic cung cấp.
Trong .NET thì bạn có thể dùng
Windows Forms, ASP.NET hay Mobile Forms để hiện thực lớp này.
Trong lớp này có 2 thành phần chính là
User Interface Components và User Interface Process Components.
UI Components
là những phần tử chịu trách nhiệm thu thập và hiển thị thông tin cho
người dùng cuối. Trong ASP.NET thì những thành phần này có thể là các
TextBox, các Button, DataGrid...
UI Process Components:
là thành phần chịu trách nhiệm quản lý các qui trình chuyển đổi giữa
các UI Components. Ví dụ chịu trách nhiệm quản lý các màn hình nhập dữ
liệu trong một loạt các thao tác định trước như các bước trong một
Wizard...
Lưu ý : lớp này không nên sử dụng
trực tiếp các dịch vụ của lớp Data Access mà nên sử dụng thông qua các
dịch vụ của lớp Business Logic vì khi bạn sử dụng trực tiếp như vậy,
bạn có thể bỏ qua các ràng buộc, các logic nghiệp vụ mà ứng dụng cần
phải có.Business Logic LayerLớp này thực hiện các nghiệp vụ chính của hệ thống, sử dụng các dịch vụ do lớp
Data Access cung cấp, và cung cấp các dịch vụ cho lớp
Presentation.
Lớp này cũng có thể sử dụng các dịch vụ của các nhà cung cấp thứ 3 (3rd
parties) để thực hiện công việc của mình(ví dụ như sử dụng dịch vụ của
các cổng thanh tóan trực tuyến như VeriSign, Paypal...).
Trong lớp này có các thành phần chính là
Business Components, Business Entities và Service Interface.
Service Interface là giao diện lập trình mà lớp này cung cấp cho lớp
Presentation sử dụng. Lớp
Presentation chỉ cần biết các dịch vụ thông qua giao diện này mà không cần phải quan tâm đến bên trong lớp này được hiện thực như thế nào.
Business Entities
là những thực thể mô tả những đối tượng thông tin mà hệ thống xử lý.
Trong ứng dụng chúng ta các đối tượng này là các chuyên mục(
Category) và bản tin(
News). Các business entities này cũng được dùng để trao đổi thông tin giữa lớp
Presentation và lớp Data Access.
Business Components là những thành phần chính thực hiện các dịch vụ mà
Service Interface
cung cấp, chịu trách nhiệm kiểm tra các ràng buộc logic(constraints),
các qui tắc nghiệp vụ(business rules), sử dụng các dịch vụ bên ngoài
khác để thực hiện các yêu cầu của ứng dụng.
Trong ứng dụng của chúng ta, lớp này sẽ chứa các thành phần là
CategoryService và NewsService làm nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ quản lý chuyên mục và các bản tin (thêm, xóa, sửa, xem chi tiết, lấy danh sách...).
Data Access LayerLớp
này thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến lưu trữ và truy xuất dữ liệu
của ứng dụng. Thường lớp này sẽ sử dụng các dịch vụ của các hệ quản trị
cơ sở dữ liệu như SQL Server, Oracle,... để thực hiện nhiệm vụ của
mình. Trong lớp này có các thành phần chính là
Data Access Logic, Data Sources, Servive Agents.
Data Access Logic components (DALC)
là thành phần chính chịu trách nhiệm lưu trữ vào và truy xuất dữ liệu
từ các nguồn dữ liệu - Data Sources như RDMBS, XML, File systems....
Trong .NET Các
DALC này thường được hiện thực bằng
cách sử dụng thư viện ADO.NET để giao tiếp với các hệ cơ sở dữ liệu
hoặc sử dụng các O/R Mapping Frameworks để thực hiện việc ánh xạ các
đối tượng trong bộ nhớ thành dữ liệu lưu trữ trong CSDL. Chúng ta sẽ
tìm hiểu các thư viện O/R Mapping này trong một bài viết khác.
Service Agents
là những thành phần trợ giúp việc truy xuất các dịch vụ bên ngòai một
cách dễ dàng và đơn giản như truy xuất các dịch vụ nội tại.
Chúng
ta đã tìm hiểu qua các lớp của mô hình 3 lớp. Lý thuyết hơi nhiều một
chút có thể làm bạn khó hiểu vì khả năng trình bày có hạn, nên bây giờ
thử tìm hiểu một qui trình cụ thể hơn để biết các lớp này giao tiếp với
nhau như thế nào. Ví dụ trong ứng dụng của chúng ta có thao tác tạo một
chuyên mục mới, thì các lớp sẽ ltương tác với nhau như sau:
Lớp Presentation- Trình bày một web form, có các text box cho phép người sử dụng nhập tên và mô tả cho chuyên mục
-
Khi người dùng nhấn nút tạo trên form này, ứng dụng sẽ thực hiện việc
tạo một Business Entity Category mới như đoạn code sau minh họa:
public void CreateNewCategory()
{
Category category = new Category();
category.Name = name.Text;
category.Description = description.Text;
// sử dụng dịch vụ do lớp Business cung cấp để tạo chuyên mục
CategoryService.CreateCategory(category);
}
Lớp Business LogicĐể cung cấp dịch vụ tạo một chuyên mục, thành phần CategoryService sẽ cung cấp hàm sau:
public static void CreateCategory(Category category)
{
// kiểm tra xem tên khóa của chuyên mục đã tồn tại chưa?
...
// kiểm tra tên khóa của chuyên mục có hợp lệ không?
...
// sử dụng DV của lớp Data Access để lưu chuyên mục mới này vào CSDL
CategoryDAO categoryDAO = new CategoryDAO();
categoryDAO.CreateCategory(category);
}
Lớp Data AccessTương
tự, để cung cấp dịch vụ lưu một chuyên mục mới vào CSDL, thành phần
CategoryDAO sẽ cung cấp hàm sau (sử dụng ADO.NET để kết nối với CSDL):
public void CreateCategory(Category category)
{
// tạo connection
...
// tạo command, khởi tạo các tham số...
command.Parameters.Add(new SqlParameter("@KeyName", category.KeyName));
command.Parameters.Add(new SqlParameter("@Name", category.Name));
command.Parameters.Add(new SqlParameter("@Description", category.Description));
// lưu dữ liệu
command.ExecuteNonQuery();
}
Phân tích và thiết kếỨng dụng của chúng ta sẽ viết bằng ASP.NET 2.0 và SQL Server 2000/2005. Ngôn ngữ được dùng là C#.
Chúng
ta đã tìm hiểu qua các thành phần chính trong mô hình 3 lớp, giờ đến
lúc bắt tay vào thiết kế các thành phần đó cho ứng dụng tin tức của
chúng ta. Trong ứng dụng tin tức mà chúng ta đã tìm hiểu yêu cầu qua
bài viết trước, chúng ta thấy có hai đối tượng thông tin chính mà chúng
ta cần quản lý là các chuyên mục(category) và tin tức(news). Ứng dụng
quản lý của chúng ta sẽ thu thập những đối tượng dữ liệu này từ người
dùng(phóng viên, biên tập viên) và trình bày lại cho người sử dụng khác
xem(độc giả). Giờ chúng ta bắt tay vào thiết kế các thành phần
Business Entities.
Business EntitiesỨng dụng của chúng ta sẽ bao gồm 2 entity chính là Category và News.

Trước hết là
Category. Một chuyên mục (Category) sẽ gồm những thông tin sau:
CategoryId: Mã chuyên mục - sẽ được sinh tự động khi tạo mới
Name: Tên chuyên mục. VD: Vi tính, Kinh tế...
KeyName:
Tên gợi nhớ dùng để phân biệt chuyên mục với nhau (không được trùng
nhau). VD với VNExpress bạn sẽ thấy có Vi-tinh, Suc-khoe...
Description:
Mô tả cho chuyên mục. VD: Description cho Vi-tinh là: thông tin mới
nhất về công nghệ thông tin của Việt Nam và thế giới...
Picture: Hình ảnh đại diện cho chuyên mục
Trong
ứng dụng đơn giản này, chúng ta chỉ thiết kế chuyên mục có một cấp,
không có các chuyên mục con, cháu... Và ứng dụng này cũng không có phần
quản lý các nhà biên tập viên, nhà báo và cơ chế cấp quyền hạn duyệt
bài, gửi bài...Tôi dành phần này cho các bạn phát triển thêm, nhưng tôi
cũng sẽ gợi ý cho các bạn cách thiết kế trong phần mở rộng ứng dụng.
Tiếp theo là
News. Mỗi một bản tin sẽ có các thông tin sau:
NewsId: mã bản tin. Sẽ được sinh tự động khi tạo mới.
Title: tiêu đề chính của bản tin. VD: Microsoft tuyên bố phá sản!
Subtitle: tiêu đề phụ của bản tin. VD: Bill Gates từ chức!
Excerpt: phần giới thiệu ngắn gọn của bản tin
Authors: danh sách tác giả bản tin. VD: Nguyễn Văn A, Hoàng Thị B
Keywords: danh sách từ khóa chính trong bản tin dùng để tìm kiếm. VD: Microsoft, broken
Body: Đây là phần nội dung chính của bản tin.
Picture: Hình ảnh minh họa cho bản tin.
CreationTime: Ngày giờ tạo bản tin
LastModificationTime: Ngày giờ chỉnh sửa cuối cùng của bản tin
PublishedTime: Ngày giờ bản tin được đăng
TotalViews: Tổng số lượt người xem bản tin
TotalRates: Tổng số lượt người đánh giá bản tin
Rate: Điểm đánh giá trung bình của bản tin
Status: Trạng thái hiện tại của bản tin. Có thể là Writting(Đang viết), Approving(Đang chờ duyệt), Published(Đã được đăng)
Business Service ComponentsBước
tiếp theo chúng ta sẽ phân tích và thiết kế các Business Service
Components. Các thành phần này sẽ làm nhiệm vụ chính cung cấp các dịch
vụ cho lớp Presentation dùng để lấy và lưu trữ thông tin.

Lớp
CategoryServiceChúng ta cần những thao tách chính trên đối tượng dữ liệu Category:
Tạo mới - CreateCategory(Category category)
Cập nhật - UpdateCategory(Category category)
Xóa - DeleteCategory(int categoryId)
Lấy thông tin chi tiết - GetCategory(int categoryId)
Lấy danh sách các category - GetCategories()
Kiểm
tra một Key xem có trong database chưa - CheckKey(string keyName). Thao
tác này dùng để kiểm tra xem khi tạo mới một category thì KeyName đã
tồn tại trong hệ thống chưa. Thao tác này có thể dùng trên lớp
Presentation để kiểm tra và thông báo lỗi cho người dùng khi họ nhập
một tên khóa đã có trong hệ thống
Lưu ý: Chúng ta sẽ thực hiện các business logic của hệ thống trong lớp này.Tương tự đối với lớp
NewsService,
dựa trên những gì yêu cầu chúng ta phân tích ở bài viết đầu tiên, chúng
ta cần những thao tác chính sau đây trên đối tượng News:
Tạo mới - CreateNews(News news)
Cập nhật - UpdateNews(News news)
Xóa - DeleteNews(int newsId)
Lấy thông tin chi tiết - GetNews(int newsId)
Lấy
danh sách các bản tin thuộc một chuyên mục nào đó, sắp xếp theo tin mới
nhất - GetNewsOfCategory(int categoryId, int page, int pageSize, out
int totalRecords)
Cập nhật số lần xem của một bản tin - UpdateTotalViews(int newsId)
Cập nhật đánh giá cho một bản tin - UpdateRate(int newsId, int rate)
Tìm bài viết dựa trên từ khóa - SearchNews(string keyWords, int page, int pageSize, out int totalRecords)
Trong
các hàm trên, các bạn chú ý đến hàm GetNewsOfCategory. Trong hàm này có
các tham số dùng để phân trang các bản tin. Chúng ta cần đến chức năng
này vì khi trình bày trên trang tin, chúng ta chỉ trình bày một số
lượng có hạn các bản tin của một chuyên mục nào đó chứ không thể trình
bày tất cả trên màn hình được. Khi người dùng muốn xem thêm, họ có thể
chọn trang tiếp theo hoặc nhấp vào link Xem tiếp, lúc đó ứng dụng sẽ
trình bày các bản tin ở các trang tiếp theo. Tham số totalRecords cho
chúng ta biết được tổng số bản tin thật sự có trong chuyên mục đó.
Lưu ý:
Khi phân tích thiết kế ban đầu bạn không thể nào hình dung được hết các
yêu cầu phát sinh để thiết kế trước các thao tác cần thiết. Bạn phải
cập nhật bản thiết kế thường xuyên để phù hợp với yêu cầu. Bản thiết kế
này vẫn còn thiếu một số chức năng cần thiết mà tôi sẽ trình bày cho
các bạn trong bài viết tiếp theo, chúng ta sẽ chỉnh sửa bản thiết kế
này trong quá trình phát triển ứng dụng để phù hợp với các yêu cầu phát
sinh mà chúng ta chưa nhìn thấy hết khi thiết kế.Data Access ComponentsBây
giờ chúng ta sẽ thiết kế các lớp dùng để truy xuất và cập nhật dữ liệu.
Các hàm của các lớp DAO cũng khá đơn giản, chỉ làm nhiệm vụ cập nhật dữ
liệu vào database và truy xuất dữ liệu từ database. Các bạn cũng thấy
chức năng nó giống như trên lớp Business Logic, nhưng ở đây chúng ta
không có bất kỳ ràng buộc logic gì, chỉ đơn giản thực hiện việc truy
xuất dữ liệu mà thôi. Các business logic đã được kiểm tra trên lớp
Business Logic.

Chúng
ta tách biệt 2 lớp CategoryDAO (DAO - Data Access Object) và NewsDAO để
dễ quản lý và thay đổi khi cần thiết. VD nếu bạn muốn thêm một thao tác
truy xuất dữ liệu mới trên đối tượng News, bạn sẽ biết ngay mình phải
thay đổi lớp NewsDAO. Nhưng có những thao tác bạn phải cân nhắc nên để
nó lớp nào vì nó liên quan đến nhiều đối tượng, lúc đó bạn phải xét xem
mục đích chính của thao tác đó là gì, thao tác trên đối tượng dữ liệu
chính nào để đưa thao tác đó vào lớp phù hợp.
Thiết kế cơ sở dữ liệuDo ứng dụng của chúng ta đơn giản nên chỉ có 2 bảng dữ liệu ánh xạ gần như 1-1 với các entities trên lớp Business Logic như sau:
Hiện thực lớp Business Logic & Data AccessSau
khi đã xong bước thiết kế, chúng ta sẽ tiến hành hiện thực 2 lớp
Business và Data Access. Các bạn có thể xem source code đính kèm để
biết chi tiết cách hiện thực 2 lớp này như thế nào. Lớp Presentation sẽ
được thiết kế và hiện thực trong bài viết tiếp theo. Phần bên dưới tôi
sẽ trình bày một số điểm chính trong cách hiện thực.
Hiện thực Data Access ComponentsDo
ứng dụng của chúng ta đơn giản nên được giới hạn sẽ dùng với CSDL SQL
Server 2000/2005 nên lớp này không được thiết kế để chạy cùng lúc với
nhiều loại database khác nhau. Chúng ta sẽ dùng cái Stored Procedures
để truy xuất dữ liệu an toàn và dễ thay đổi hơn, tránh bị các lỗi như
SQL Injection(không thể tránh hoàn toàn nếu bạn không hiện thực đúng).
Các bạn có thể xem qua một cách hiện thực một hàm cơ bản như thế nào:
public void CreateCategory(Category category)
{
using (SqlConnection connection = GetConnection())
{
SqlCommand command = new SqlCommand("spCategoriesCreate", connection);
command.CommandType = CommandType.StoredProcedure;
command.Parameters.Add(new SqlParameter("@KeyName", category.KeyName));
command.Parameters.Add(new SqlParameter("@Name", category.Name));
command.Parameters.Add(new SqlParameter("@Description", category.Description));
command.Parameters.Add(new SqlParameter("@Picture", category.Picture));
SqlParameter paramCategoryId = new SqlParameter("@CategoryId", SqlDbType.Int, 4);
paramCategoryId.Direction = ParameterDirection.Output;
command.Parameters.Add(paramCategoryId);
connection.Open();
command.ExecuteNonQuery();
if (paramCategoryId.Value != DBNull.Value)
category.CategoryId = (int)paramCategoryId.Value;
else
throw new DataAccessException(String.Format(Resources.Strings.CreateEntityException, "Category"));
}
}
Stored Procedure
spCategoriesCreate đơn giản được viết như sau:
CREATE PROCEDURE dbo.spCategoriesCreate
@Name nvarchar(50),
@KeyName varchar(30),
@Description ntext,
@Picture varchar(256),
@CategoryId int output
AS
INSERT INTO Categories
(
Name,
KeyName,
Description,
Picture
)
VALUES
(
@Name,
@KeyName,
@Description,
@Picture
)
SELECT @CategoryId = SCOPE_IDENTITY()
Hiện thực lớp Business LogicHiện
thực lớp Business Logic đòi hỏi bạn phải nắm rõ các business logic của
ứng dụng. Ví dụ đối với ứng dụng tin tức của chúng ta thì khi tạo một
chuyên mục mới, bạn phải kiểm tra xem KeyName của chuyên mục đó đã có
trong hệ thống chưa? Nếu có rồi thì phải báo lỗi, và nếu chưa có thì
chúng ta kiểm tra KeyName đó có hợp lệ hay không? (Chỉ chứa kí tự
alphabet, chữ số, gạch dưới và gạch ngang...).
public static void CreateCategory(Category category)
{
// Has this key name existed?
if (!CheckKey(category.KeyName))
throw new BusinessException(String.Format(Resources.Strings.KeyNameExisted, category.KeyName));
// is this key name valid?
if (!ValidateKey(category.KeyName))
throw new BusinessException(String.Format(Resources.Strings.InvalidKeyName, category.KeyName));
// ok , now save it to database
CategoryDAO categoryDAO = new CategoryDAO();
categoryDAO.CreateCategory(category);
}